thiền tiếng anh là gì
II. Thiền tông là gì? 1. Định nghĩa về phái thiền tông Thiền tông trong tiếng anh là Zen Buddhism, tiếng Trung: 禪宗 - pinyin: chán-zōng, tiếng Nhật: zen-shū (禅宗). Thiên tông là tông phái Phật giáo Đại thừa, hay còn gọi là Phật tâm.
Thiền trong tiếng Anh, tùy theo ngữ cảnh, có thể được dịch như một danh từ: meditation, contemplation, concentration, abstraction, trance…hoặc như một động từ: to meditate, to comtemplate, to think of, to imagine, to call to mind, to recollect…Tuy nhiên tất cả các từ này đều chỉ đúng theo từng ngữ cảnh riêng biệt mà thôi, có nghĩa là không được đúng theo ý nghĩa tổng quát nhất.
Nghĩa Của Từ : Ngồi Thiền Tiếng Anh Là Gì, Ngồi Thiền Tiếng Anh Là Gì. Cùng với Mindfulness (Tỉnh thức), Meditation tuyệt Tthánh thiện là 1 trong bốn duy cùng một thực hành thực tế đã trở thành thịnh hành trong các làng hội Âu Mỹ giữa những những năm gần đây. Trong khunh
Tiếng Việt: ·Một nhánh của Phật giáo (một tôn giáo có từ lâu đời, xuất phát ban đầu từ Ấn Độ sau đó ảnh hưởng đến các quốc gia xung quanh như Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản và bao gồm Việt Nam)
Làm thế nào để bạn dịch "thiền định" thành Tiếng Anh: meditation. Câu ví dụ: Thiền định không tốn kém gì cả, nhưng phải mất thời gian.
Nếu bạn thiền với 100 người, 1000 người, những người đó cũng đang thực hiện hành trình quay về bên trong của họ, bạn kết nối với mọi người, kết nối với tâm thức cao hơn, kết nối với nguồi cội. Khi tôi kết nối với Thượng Đế, bạn kết nối với Thượng Đế
schisicarciou1988. Bản dịch Ví dụ về đơn ngữ The Panchen Lama is seen as the second most influential figure in Tibetan Buddhism after the Dalai Lama, who Beijing accuses of being a separatist. Special ceremonies were held in Tibet to commemorate the 20th anniversary of Qoigyijabu's appointment as Panchen Lama. The appointment of the 11th Panchen Lama, the second highest Tibetan spiritual figure, to the Chinese People's Consultative Conference is largely symbolic. One of them, Gyaltsen Norbu, is the Communist Party's choice for Panchen Lama, the second-in-command in Tibetan Buddhism who is traditionally the abbot of Tashilhunpo. According to state media, the Panchen Lama made no mention of the monastery in his speech. Hơn A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y
Thực hành thiền hàng ngày của riêng tôi thông báo cho tôi rằng có rất nhiều sự thật trong những gì de Chardin đang own daily meditation practice informs me that there is a great deal of truth in what de Chardin is stating. và trầm cảm và mang lại cho bạn nhiều Tự do và Lễ kỷ niệm cho cuộc sống của bạn. and depression and brings you lots of Freedom and Celebration to your bạn vẫn chưa thực hành thiền thì đã đến lúc để khởi động, ngay cả khi chỉ có thể dành 5- 10 phút/ ngày. even if it's just for five to ten minutes of your tên của bạn, nhận ra rằng thông qua thực hành thiền chánh niệm, sẽ thấy sự biến đổi tâm linh trong bản thân name, realize that through a diligent mindfulness meditation practice, will see spiritual transformation in myself. cho dù chỉ năm đến mười phút mỗi ngày. even if it's just for five to ten minutes of your có sự thực hành thiền thì tôi không bao giờ có thể làm được điều đó.”. tập trung hơi thở, khi đó tâm trí bạn sẽ không còn dành cho các hoạt động và suy nghĩ khác. exercises where your mind is free from other activities and thoughts. thiết bị tinh vi, cơ sở hạ tầng, hệ thống hỗ trợ hoặc tiền. infrastructure, support system or đã được chứng minh rằng thực hành thiền thường xuyên có nhiều lợi ích cho sức khỏe của chúng buổi sáng, Rick quyết định việc này quá khó khăn vàanh sẽ rời khỏi khóa tu sau buổi sáng thực hành thiền đi bộ im morning Rick decided this was just too hard,and he would leave the retreat after the morning silent walking meditation cuộc thảo luận ở trên cung cấp một cái nhìnthoáng qua về tiềm năng của một thực hành thiền cho sinh viên ở mọi lứa above discussion provides a glimpse of the potential of a meditation practice for students of all Chánh niệmcó thể được coi là một triết lý của cuộc sống bao gồm thực hành its part,Nếu bạn không thể thực hành thiền một mình, hãy tham gia vào nhóm hoặc câu lạc giờ tôi sẽ nêu ra một số chỉ dẫn liên quan tới thiền,Now I shall give certain instructions regarding meditation,Họ cũng có một trình độ kinhnghiệm cao đặt căn bản trên sự thực hành thiền quán lâu dài và sống theo những kinh nghiệm mà họ đạt also have quite ahigh degree of experience based on prolonged meditative practices and live according to the experiences they have hai lần thực hành thiền của bạn, tiếp tục lập lại từ RAHN, điều sẽ kích thích Tri Thức Cổ Đại bên trong bạn. which will stimulate Ancient Knowledge within ta có thể tìmkiếm sự giác ngộ bằng cách thực hành thiền, nhưng chúng ta nên thực hành như thế nào để chúng ta đạt được giác ngộ?One can seek enlightenment by practicing meditation, but how should we practice so that we can attain enlightenment? một lần nữa hãy tiến vào tĩnh tháng sau đó, những người trong nhóm thực hành thiền chánh niệm đã cho thấy máu của họ ở những tầng mức viêm nhiễm thấp hơn nhiều so với nhóm thư months later, those who had practiced meditation showed much lower levels of unhealthy inflammation in their blood than the relaxation hai lần thực hành thiền của bạn, hãy cho phép sự thu hút của Tri Thức kéo bạn sâu hơn vào trong bản your two meditation practices, allow the attraction of Knowledge to pull you deeper within yourself. ít nhất là giai thoại, được cho là sẽ làm cho con đường của bạn trở nên hạnh phúc hơn, khỏe mạnh hơn. at least anecdotally, supposed to smooth your way to a happier, more healthful nghiên cứu cho thấy,những người lao động thường xuyên thực hành thiền sẽ tập trung vào một nhiệm vụ lâu similar studyshowed that human resource workers who regularly practiced meditation stayed focused on a task for longer.
Thiền trong tiếng Anh, tùy theo ngữ cảnh, có thể được dịch như một danh từ meditation, contemplation, concentration, abstraction, trance…hoặc như một động từ to meditate, to comtemplate, to think of, to imagine, to call to mind, to recollect…Tuy nhiên tất cả các từ này đều chỉ đúng theo từng ngữ cảnh riêng biệt mà thôi, có nghĩa là không được đúng theo ý nghĩa tổng quát là gì?Định trong tiếng Anh phổ thông được dịch là Samadhi hay trong tiếng Anh được dịch là contemplation. Từ “Tuệ quán” của Đạo Phật Nguyên Thủy được dịch theo âm Pali Latin hóa là trường hợp vì không biết đến các phái thiền khác nhau, nênnhiều người vẫn liên tưởng thiền là Zen!Ở Việt Nam hay các quốc gia có Đạo Phật, nói đến “thiền” thì đa số người đều liên tưởng đến phương pháp hành trì của Phật giáo. Tuy nhiên, ở Ấn Độ nói đến “thiền” thì người ta lại liên tưởng đến Bà La Môn giáo hoặc các tôn giáo khác cùng ở khu vực này. Ngay trong Phật giáo, chữ “thiền” cũng được dịch từ những chữ có nội dung khác biệt!– Thiền, trong kinh điển Phật giáo nguyên thủy, viết bằng tiếng Pali là bhavana dùng để chỉ những pháp thực hành nhằm rèn luyện tâm. Phật giáo nguyên thủy có hai pháp thực hành Pháp hành thiền định samatha bhavana và pháp hành thiền quán vipassanabhavana.– Định, trong Phật giáo nguyên Thủy gọi bằng tiếng Pali là Jhana. Trong kinh điển Phật giáo phát triển, tức Phật giáo đại thừa, Định được gọi bằng tiếng Sanskrit là dhyana .Khái niệm “Thiền” của Phật giáo đại thừa bị thay đổi theo từng quan niệm khác nhau của các tông phái khác nhau. Vì khi phát triển thành Phật giáo Đại thừa người ta sử dụng các phương pháp thiền rất khác biệt với nhau và các phương pháp đó nhiều khi chẳng còn mối liên hệ nào với pháp thiền mà Đức Phật Gautama đã từng thực hành và giảng dạy. Giữa thập đại tông phái của Đại thừa, khó xác định được tông phái nào có xử dụng hoặc không xử dụng loại thiền nào!Tuy nhiên, còn nhiều phương pháp thiền khác, cũng được dùng trong Yoga, Lão giáo… Vậy chữ Thiền chỉ là một từ gọi “chung chung” của rất nhiều các nội dung rất khác biệt. Với kiến thức phổ thông, thiền cũng thường được hiểu như phương pháp thư dãn, chống stress, cân bằng đầu óc, giữ gìn sức khỏe Với kiến thức chuyên môn hơn thì ta có sự phân biệt giữa thiền của Sakya Muni tức thiền nguyên thủy, thiền của Phật giáo phát triển, thiền của Thiền tông, thiền của Mật tông, thiền của Yoga hay thiền của đạo Lão là gì?Bởi vì thiền là phương pháp của nhiều pháp môn, nên câu hỏi “thiền là gì?” quả là một câu hỏi không được rõ ràng và vì thế chưa thể có câu trả lời chính xác. Nhưng đối với đa số những người sơ tâm, đó lại là một câu hỏi luôn được đặt ra với nhiều trăn trở. Bài viết này là một cố gắng để trả lời một câu hỏi rất “mơ hồ”, nhưng rất thường được đặt ra! Và bài viết này coi Thiền là một từ chung mà ta thường gặp, nghĩa là phạm trù của nó, không thuộc về riêng của một tôn giáo hay tông phái nào vào Google câu Thiền là gì?” cho ra những trang kết quả tiếng Việt với quá nhiều các câu trả lời khác biệt. Mỗi người đứng ở những pháp môn khác nhau, ở những góc độ khác nhau, cho nên những câu trả lời cũng khác nhau. Sau đây là một số câu trả lời tìm thấy ngẫu nhiên trên Internet ngay trong thời điểm viết bài này, tôi để links dẫn như một bằng chứng cho việc giải thích rất khác biệt về một chữ “Thiền”!Của trang Yoga VN Theo thuật ngữ Yoga, Thiền được gọi là “Dhyana” nghiã là “dòng chảy của tâm trí”. Đây là một trạng thái tinh khiết và tập trung cao độ khi tâm trí xuôi chảy không gì ngăn trở, hoàn toàn đắm mình trong ý nghĩ về Ý Thức Vũ Thiền định có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại. Ngoài tác dụng thư giãn, nó còn giúp phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng chức năng cơ Wiki tiếng Việt Tất cả các trào lưu triết học Ấn Độ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là là Tĩnh lự zh. 靜慮. Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na zh. 馱衍那, Trì-a-na 持阿那. Đây là một thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là đạt kinh nghiệm “Tỉnh giác”, “Giải thoát”, “Giác ngộ”…Của một sư cô Thiền là gì? Thiền là trạng thái tâm vắng lặng trước sự vật, hiện tượng xảy ra trước mặt hay xung quanh ta….Của một hòa thượng Một câu hỏi khó giải đáp, vì Thiền phủ nhận tất cả, vì bản chất của Thiền vượt ngoài định nghĩa và giải thích, không có ngôn ngữ và văn tự, lời dạy đặc biệt ngoài kinh điển, hay “biệt truyền ngoài giáo điển”, chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh thành Phật “trực chỉ minh tâm, kiến tánh thành Phật”.Của Krisnamurti Thiền không phải là phương tiện. Nó là cả hai phương tiện và cứu cánh. Thiền là một điều phi thường. Nếu có bất cứ một sự bắt buộc, cố gắng bắt tư tưởng phải tuân thủ, bắt chước, thì Thiền sẽ là một gánh Osho Vậy Thiền không phải là chống lại hành động. Bạn không cần phải thoát ly ra khỏi cuộc sống. Nó đơn thuần dạy bạn một cách sống mới Bạn trở thành trung tâm của cơn xoáy lốc. Cuộc sống của bạn cứ tiếp diễn, nó cứ ngày một mạnh mẽ thêm, với nhiều niềm vui sướng hơn, với nhiều sáng tỏ hơn, nhiều cái nhìn hơn, nhiều sáng tạo hơn, mà bạn thì vẫn đứng xa, chỉ là một người quan sát trên đồi, đơn thuần thấy tất cả những điều đang xảy ra quanh câu trả lời vừa liệt kê ở trên, cho thấy có rất nhiều kiểu trả lời với những nội dung rất khác biệt. Vì thế, vấn đề quả thực rất không đơn giản. Câu hỏi thiền là gì? Luôn là nỗi bức xúc cho một người sơ tâm mới bước vào thiền. Vô số sách về Yoga và Thiền định đã được xuất bản, và hiện nay có thêm cả Internet, một khối tư liệu thật phong phú của toàn thế giới. Nhưng nếu không khéo, càng đọc càng lẫn lộn! Chỉ có người thực sự có thể nghiệm về thiền mới có thể viết hoặc dịch những tài liệu về thiền một cách đúng đắn và chính xác. Nếu người viết hoặc dich sách hoàn toàn không có kinh nghiệm thực hành, thì bạn sẽ nhận thấy ngay rằng cuốn sách luôn có biểu hiện rối rắm khó hiểu. Sụ khó hiểu ít khi ở bản chất vấn đề, mà chính ở tại người giải thích. Tôi không tin nhiều lắm ở luận điệu cho rằng nội dung thiền là không thể diễn đạt, bất khả tư nghì. Hoặc là phát biểu, hai là phải im lặng. Không thể cứ nói, cứ viết tràng giang, in sách lấy tiền rồi cuối cùng lại kết luận là tri giả bất ngôn! biết thì không nói được hoặc bất khả tư nghì! không thể nghĩ bàn. Như vậy phải chăng là chơi khăm độc giả? Tôi nhớ có đọc rất nhiều luận điệu kiểu “thiền thì không thể diễn đạt”, “Đi đứng nằm ngồi cũng là thiền !” hoặc “Thiền là nhướng mày chớp mắt”.Hiện tại, trên đa số sách báo, ta luôn gặp những lời giải thích đầy “phong cách thiền” đại loại giống như vậy. Một thiền sư có thể nghiệm thiền đầy đủ thì dù có dùng lời lẽ bình dị mộc mạc thì người nghe vẫn hiểu, vẫn thấy nó là ngôn ngữ trí huệ. Một người không có thể nghiệm hoặc thể nghiệm quá ít, dù có xử dụng ngôn ngữ uyên thâm trác tuyệt, thì trước sau cũng chỉ là loại “ngôn ngữ nhái” rỗng tuếch. Cũng phải biết rằng, Đức Phật trong lúc giảng dạy, ngài không dùng thứ ngôn ngữ bác học lúc bấy giờ, mà dùng ngôn ngữ bình dị của giới dân giả đó là tiếng Pali. Phải biết rằng những trải nghiệm thiền Định và Quán, đã từng được mô tả rất mạch lạc và rõ ràng trong kinh điển Phật giáo. Không hiểu sao, qua một thời gian dài “phát triển”, thế hệ sau lại tránh né những mô tả cần thiết này. Tôi để chữ “phát triển” trong ngoặc như một nỗi băn khoăn! Trên sách báo chữ “Thiền” được sử dụng rất rộng rãi, vì thế nếu không so sánh nó trong ngữ cảnh riêng biệt thì dễ lẫn lộn. Có khi “Thiền” được dùng như là một động từ “Thiền” là động tác quay tâm vào trong, an trú tâm trên một đối giáo nguyên thủy có định nghiã kinh điển Samatha là an trú tâm trên một đối tượng nhất định, làm vắng lặng năm pháp chướng ngại triền cái bằng năm chi thiền để đạt được lần lượt bốn định hữu sắc hay vô sắc. “Thiền” cũng là động tác quan sát theo dõi các đối tượng về thân hay tâm Ví dụ “Thiền quán” tức Vipassana. Đối với thiền Phật giáo, nên tránh dùng chữ “thiền” chung chung, mà nên dùng chữ “thiền-định” hay “thiền-quán” để thật rõ nghĩa.“Thiền” cũng được dùng như là một danh từ. Trong một số các tài liệu, “thiền” có thể được dùng để chỉ một trạng thái. Ví dụ, trạng thái của thiền định của Thiền nguyên thủy bao gồm tám trạng thái của bốn định hữu sắc và bốn định vô sắc. Danh từ “Thiền” trong ngôn ngữ bình thường có thể ám chỉ một kĩ thuật hay phương pháp. Ví dụ thiền định chỉ, thiền quán chiếu, thiền tĩnh, thiền động, Như lai thiền, Tổ sư thiền Có người ví dụ Krisnamurti nói rằng thiền không cần đến phương pháp và kĩ thuật, vì phương pháp hay kĩ thuật vận dụng đến đầu óc mind, cho nên chỉ làm chướng ngại việc nhập thiền. Điều đó đúng! Nhưng Osho phân tích rằng, trước khi đi đến trạng thái thiền, đầu óc có quá nhiều chướng ngại năm triền cái, the five hidrances, nên cần phải có kĩ thuật để vượt những chướng ngại pháp hay kĩ thuật là để chuẩn bị cho giai đoạn trước thiền. Hoặc ta cũng có thể nghe một kiểu nói rất “phong cách thiền” là thiền không có “động” cho nên không thể có “động từ thiền”. Điều này đúng với tình trạng của thiền chỉ samatha nhưng không đúng với thiền quán vipassana. Ngay trong trường hợp của chỉ samatha, khi chuẩn bị bắt đầu vào “chỉ” thì ta đã làm một động tác rồi! Tóm lại, phân biệt danh từ, động từ, hay thế này thế nọ, cốt làm sao cho người muốn tìm hiểu, nắm bắt cái khái niệm chung nhất của chữ thiền, chữ mà ta thường đọc được trên sách giờ tài liệu trên Internet về kinh luận của PG Nguyên thủy, PG Đại thừa, Mật tông, Thiền tông, Yoga đầy đủ, cho nên việc tìm hiểu và so sánh giữa các loại “Thiền” có phần dễ dàng hơn. Câu hỏi Thiền là gì phải được trả lời tùy theo nội dung mà nó muốn ám chỉ. Nghĩa là câu trả lời phải tùy theo từng tôn giáo hoặc pháp môn. Xin liệt kê sau đây một số nội dung chínhThiền của Đạo Phật nguyên thủyGồm có hai kỹ thuật chính là Thiền Định samatha và Thiền Tuệ Quán vipassana. Đối với Đạo Phật Gautama, khi nói đến thiền nhất thiết phải phân biệt đó là Thiền Định hay Thiền Quán. Thiền định còn gọi là Định hay Tịnh chỉ, là pháp an trú tâm trên một đối tượng. Thiền quán là công phu quán sát các đối tượng, hiện tượng đang hiện hữu, diễn biến, xảy ra trong thân và tâm với mục đích để nhìn thấy tính duyên hợp, vô thường và vô ngã của chúng. Cần nên biết Thiền định của Phật giáo nguyên thủy đưa đến bốn bậc thiền hữu sắc là sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, và bốn bậc thiền vô sắc là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Những thiền định nói trên mặc dù có ngoài Đạo Phật và không đưa đến bốn đạo quả, nhưng vẫn là kĩ thuật luyện tâm song song với pháp thiền quán. Pháp Thiền Quán được coi là một sáng tạo riêng của Đức Phật. Việc thực hành Thiền quán cần sử dụng yếu tố định, cho nên công phu thiền định là một lợi thế cho thực hành thiền tuệ của Phật giáo đại thừaKhi Đạo Phật phát triển thành Đại thừa, thiền cũng thay đổi khác đi thành niệm Phật hoặc niệm chú, và thậm chí có những tông phái không còn nhắc nhở đến những pháp thiền định hay thiền quán nữa. Như vậy, từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật giáo đại thừa, Thiền đã có sự thay đổi nội dung rất lớn. Chẳng hạn pháp thiền Lục Diệu pháp môn của Trí Khải Đại thừa Trung Quốc không có nội dung từ các bộ Nikaya, mà lại thấm đậm hương vị Lão giáo. Từ “Thiền của Phật giáo đại thừa” đến “Thiền của Thiền tông” lại thêm một thay đổi nội dung lớn hơn nữa. Mặc dù tự nhận là một phát triển của Phật giáo Đại thừa nhưng Thiền Tông Trung Quốc Thiền Đông Độ có một sắc thái rất đặc sắc. Rất tiếc người Trung Quốc đã không nhận đây là một đỉnh cao trí tuệ của văn hóa Trung Quốc để Thiền Tông được là một đỉnh cao bên cạnh các đỉnh cao Khổng Giáo và Lão giáo!Thiền của Thiền tôngRất nhiều sách, bài viết, uyên bác cao siêu giải thích về phương pháp thiền của thiền tông. Tuy nhiên, tất cả đều làm cho người đọc, khó hình dung được thực sự bản chất thiền của Thiền tông là gì! Người sơ tâm chẳng nên đi thẳng vào sách thiền của Thiền tông, một môn phái đặc thù và khác biệt so với đạo Phật truyền thống. Lý do là chữ “Thiền” của thiền tông mang nội dung gần như là xa lạ với chữ “Thiền” của các tông phái khác. Cũng nên biết rằng, khi một nhánh Phật giáo đại thừa phát triển thành Thiền tông Trung quốc, thì chữ thiền Dhyana của Đại thừa lại một lần nữa thay đổi với một nội dung của thiền tông không phải là thiền định, cũng không phải là thiền quán, không phải là jhana hay dhyana, thiền của Thiền tông cũng không hẳn là tọa thiền. Thiền của Thiền tông được cho là nhắm vào mục đích kiến tánh để đốn ngộ, cho nên phương pháp của nó là một đặc thù. Đây có thể là “quán công án” hoặc “khán thoại đầu”, cho nên nó có thể thực hiện ở bất cứ tư thế nào, hay ở bất cứ nơi đâu. Đây có thể là thủ pháp đánh và hét, mục đính làm cho người đệ tử bất ngờ hốt hoảng rơi vào trạng thái “mất hồn” đưa đến tình trạng vô ngã tạm thời. Đây có thể là cách quan sát sự vật của thế giới hiện tượng mà tránh để trí óc định danh các sự đích trong các phương pháp của Thiền tông là nhằm phá hủy các khái niệm và ngôn ngữ hình thức, vốn được cho rằng không thể chuyên chở được nội dung của thực tại, trái lại còn bóp méo thực tại tuyệt đối. Truyền thống này khiến ngôn ngữ của Thiền tông thường khó hiểu và lập dị đối với lí trí bình thường. Một khuynh hướng Thiền Trung Quốc nhấn mạnh vào khái niệm “sống trong hiện” tại đang được phổ biến nhiều ở Tây phương bởi các Đạo sư như Krisnamurti, Eckhart Toll, Osho…tuy nhiên các Đạo sư không đưa ra một phương pháp rõ ràng nào để thực việc “sống trong hiện tại” này cả dường như các đạo sư tin rằng chỉ cần dùng “ý chí cá nhân” là có thể sống trong hiện tại được!Thiền của YogaĐạo Phật xuất phát từ minh triết của Ấn độ. Thiền Định trong đạo Phật cũng đã bắt nguồn từ Yoga. Thời đó Yoga là một trong sáu phái triết học nổi tiếng của Ấn độ. Yoga có những tông phái thực hành thiền để đạt cứu cánh giải thoát Giải thoát theo quan điểm Hindouism.Pantajali là người có công biên tập tất cả tài liệu về Yoga trong giai đoạn từ thế kỉ thứ 05 đến thế kỉ thứ 03 trước công nguyên. Bây giờ khi nói đến thiền, cũng có rất nhiều người liên tưởng đến những phương pháp Yoga. Ngoài yoga rèn luyện khí lực và cơ thể vật chất là Hatha yoga, còn có Yoga luyện tâm, đó là Rahja yoga. Rahja yoga quan niệm Vật chất không thể tách rời Ý thức hay ngược lại. Tâm và Vật là một thực tại thống nhất, không thể tách rời. Sự tiến hóa của tâm tất yếu phải đi liền với sự thay đổi khí lực tức năng lượng cơ thể và ngược lại. Từ Rajha yoga phát sinh rất nhiều kĩ thuật Yoga khác như Kundalini yoga, Transcendental yoga, Kriya yoga cả những phương pháp này có thể gọi là thiền của loại thiền của Yoga đang trở thành “hiện tượng” trong cộng đồng người Việt trong hai thập niên trở lại đây, đó là Surat Shab yoga tức thiền Thanh Hải. Cũng giống như một số trừơng phái Thiền khác, không hiểu sao Surat shab Yoga lại cố nhận mình là Đạo Phật! Cũng giống như tất cả các loại thiền khác, Thiền Thanh Hải chưa bao giờ biết pháp của mình là thiền định hay thiền quán. Dù không phân biệt thiền định hay thiền quán, thiền Thanh Hải cũng không bào giờ biết các dấu hiệu hay chuẩn mực của sự chứng đắc là gì! Nếu được gọi là chứng đắc, thì một thiền sư của pháp môn Thanh Hải cũng không thể tự xác định được đạo quả của mình!Thiền của Mật tông Phật giáoMật tông Phật giáo bắt đầu ở Ấn độ, nhưng lại chỉ phát triển ở Tây Tạng, nên nói đến Mật tông Phật giáo là nói đến Mật tông Tây Tạng. Mật tông Tây Tạng chú trọng đến thiến quán hơn thiền định có thể tham khảo cuốn Giải thoát trong lòng bàn tay của Papongka do sư cô Trí Hải dịch. Thiền của Mật tông hiển nhiên được phát triển trên nền minh triết của Yoga hình thành trước đó. Mật tông dùng thiền quán đối với Chơn ngôn darani, Mandala, Linh phù yantra, các vị hóa thần Yidam. Một trong những đối tượng quán của thiền Mật tông là Kundalini. Có lẽ Kundalini yoga là của Yoga Ấn giáo hơn là của Mật tông Phật giáo! Mật tông dùng thiền quán về luồng hỏa xà Kundalini tummo làm một trong những phương tiện để chuyển hóa tâm thức. Sáu pháp của Naropa, đạo sư Mật tông, được gọi là sáu yogas six yogas of Naropa. Đến đây ta thấy được mối quan hệ sâu sắc giữa Yoga và Mật tông. Và cũng thấy rằng thiền chỉ là phương tiện của nhiều con của Lão giáoCòn gọi là thiền của Đạo gia, hoặc cũng có khi gọi thẳng là Đạo gia khí công. Vì sao lại có thể gọi thiền là khí công? Vì bản chất của khí công cũng là thiền quán trên một đối tượng cơ thể, đó là luồng khí lực. Thiền của Lão giáo nhắm vào khai thông các kinh huyệt chính như Nhâm và Đốc, khai thông luồng hỏa hầu… Công phu thiền của Lão giáo đưa đến khai mở Huyền quan khiếu, thành tựu thánh thai… Ta thấy có sự tương đồng trùng khít giữa thiền của Lão giáo với thiền của Yoga hay thiền của Mật tông, trên một nguyên lý Chuyển đổi của tâm phải bắt đầu bằng sự chuyển đổi khí lực của cơ thể. Dĩ nhiên đây không phải là chủ nghĩa duy vật mà chỉ là duy “Một”. Cái Một không thể tách rời thành hai “tâm” và “vật”.Thiền là phương tiện thực hành của nhiều tôn giáo khác. Thiền không hẳn là của riêng Thiền tông Chan, Zen hoặc của riêng đạo Phật hay Ấn giáo. Nhóm tôn giáo xuất phát từ Cựu ước như Do Thái giáo, Hồi Giáo, Thiên chúa giáo hay nói tới từ “Mặc Khải”. Mặc khải revelation cũng chính là Thiền meditation. Kinh Khải Huyền Apocalypse mô tả những cõi giới hoàn toàn tương ứng vơí một tam muội. Thánh Jean de la Croix cũng mô tả thể nghiệm tâm linh của mình Ascension of Mount Carmel giống như một hành giả thiền. Như vậy thiền cũng tồn tại trong khu vực của các tôn giáo Do thái, Hồi và Thiên Chúa, như một phương pháp tiếp cận Thượng Đế. Thiền là phương pháp thực hành tâm linh rất phổ quát. Cho nên một định nghĩa thiền hay một giải thích về thiền càng mang tính phổ quát càng dễ được cộng đồng tiếp thu. Dù có khác biệt về phương pháp và nội dung qua thời gian và khu vực văn hóa địa lý, nhưng mục đích của thiền thì không đổi. Để hiểu rõ thêm Thiền meditation là gì? Bạn có thể đặt thêm câu hỏiThiền không phải là gì?Thiền không hẳn là “Trong không vọng ngoài không động”Bên trong, tâm không vọng. Nhưng bên ngoài thì thân vẫn có thể động. Có rất nhiều loại thiền “động” như thiền hành, thiền quay tròn, thiền với những động tác đặc biệt để khích động Kundalini chẳng hạn…. Osho trình bày nhiều về các loại thiền động dynamic meditation. Thiền sinh có thể được dẫn đến trạng thái nhập thiền khi nhún nhảy hoặc lắc mạnh cơ thể theo nhịp điệu hoặc âm nhạc! Khi các bộ lạc nhảy múa hoặc các đồng cốt đong đưa cơ thể thì có lẽ tác dụng và hiệu ứng cũng nằm trong nguyên lý thiền động này. Tập trung nội quán, mà đối tượng quán là năm uẩn, chính là Vipassana, là phương pháp thiền quán của đạo phật nguyên thủy. Đối tượng quán của Vipassana là cơ thể vật chất, ý thức và cảm xúc, xảy ra trong cơ thể. Thiền có thể thực hiện trong tất cả các động tác! Thiền động là một khái niệm không thể phủ nhận. Dù khó có thể đi vào một định sâu, nhưng thiến động hình như rất có lợi cho người sơ tâm, muốn biết hương vị đầu tiên của thiền là gì! Không quên rằng Thiền hành đi chậm rãi trong chánh niệm là phương pháp phổ biến trong thời Đức Phật, vẫn đang tiếp tục được thực hành trong Đạo Phật Nguyên không phải chỉ là ngồi thiềnĐúng vậy, chỉ có Thiền Định Samatha là cần nhiều ở tư thế ngồi. Còn Thiền quán Vipassana thì không nhất thiết phải ngồi, trái lại còn được khuyến khích nên thực hiện trong cả tứ oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Người thực hành có thể thể thiền trong cả bốn oai nghi đi, đứng, nằm ngồi, hoặc làm những động tác đặc biệt khác. Đặc biệt với Thiền tông Thiền công án hoặc khán thoại đầu, thiền sinh có thể tham công án hoặc khán thoại đầu trong bất cứ hoàn cảnh hoặc tư thế nào. Thiền tông Trung quốc, với khẩu quyết “kiến tánh thành Phật”, cho nên thiền là làm thế nào để kiến tánh, chứ không phải gò ép trong tư thế ngồi! Theo quan điểm này, ngồi cũng được mà không ngồi cũng được. Thậm chí trong giai thoại Thiền tông, có một vị thiền sư “đắc đạo” trách một vị thiền sư thường ngồi nhưng chưa “đắc đạo” Tại sao lúc sống cứ ngồi không nằm rồi lúc chết lại cứ nằm không ngồi! Các Thiền sư hay nói bóng gió “đi đứng nằm ngồi cũng là thiền”.Cách nói này gây ra hiểu lầm tai hại. Nhiều người sơ tâm tưởng rằng không cần phải xử dụng các phương pháp thiền, như thiền chỉ hay thiền quán, thiền động hay thiền tĩnh…Không cần phải tham công án hay khán thoại đầu, chỉ sống tự nhiên, đi đứng bình thường cũng… là thiền! Người có trải nghiệm sẽ biết rằng, trạng thái “đi đứng nằm ngồi cũng là thiền” là “kết quả” có được sau khi thành tựu, chứ không phải là “nguyên nhân” sinh khởi trạng thái thiền. Cũng như vậy “Sống trong hiện tại” là thành tựu, là kết quả, của việc nhập thiền chứ không phải là nguyên nhân hoặc là phương pháp để thực hành thiền thiền tông Trung Quốc. Tóm lại “thiền không cần tọa thiền” chỉ là đặc điểm của một vài pháp môn giữa rất nhiều pháp ngồi thiền vẫn là tư thế quen thuộc và hiệu quả nhấtTư thế ngồì thoải mái vững chắc là điều kiện tốt để thiền cả Thiền Định lẫn Thiền Quán. Đứng thì dễ vọng động trạo cử. Nằm thì dễ buồn ngủ hôn trầm. Những cơn định sâu và kéo dài bắt buộc phải thực hiện trong tư thế ngồi. Đức Phật đã từng nhập sâu vào thiền định với thời gian 45 ngày trong tư thế ngồi. Chỉ ở tư thế ngồi kiết già hoặc bán già, thiền sư mới không bị ngã tới trước hay sau khi nhập sâu vào thiền với thiền tông, khi giữ được chính niệm một cách kiên cố, thiền sư có thể đi, đứng, nằm, ngồi, trong trạng thái thiền. Tuy nhiên Đạo Phật nguyên thủy cần những bậc định “sâu” hơn để dễ thực hành 16 tầng tuệ quán sau này, lúc đó ngồi nhất định là tư thế cần thiết. Cũng nên nói thêm, rằng tư thế ngồi chỉ cần vững vàng và thẳng lưng là đủ. Ngồi thiền không lệ thuộc các kiểu xếp của chân. Mọi chuyển biến của tâm xảy ra trên đầu chứ không xảy ra ở hai không là lối đi tắtĐây là vấn đề còn mãi trong sự tranh luận về ý nghĩa giữa pháp môn Đốn immediate và pháp môn Tiệm gradual. Thiền tông cho rằng pháp môn của mình là Đốn giáo, nghĩa là có thể dẫn môn sinh kiến tánh thành Phật rất nhanh. Đốn ngộ là ngộ rất đột ngột, thường được diễn đạt là “hốt nhiên đại ngộ”. Cũng trong lí luận đó, suy ra các pháp môn khác là Tiệm giáo, cần thời gian rất lâu dài để đi đến chứng đắc. Nói rằng “đốn”, nhưng mỗi con người, ai cũng đã từng tiến hóa qua bao nhiêu đời kiếp. Nói cách khác, luôn luôn đã có một quá trình chuẩn bị của đời này hay từ nhiều đời trước, trước khi đốn ngộ. Vậy thực có một sự kiện gọi là “đốn” hay không! Còn “đốn ngộ” là sơ ngộ hay đại ngộ. Nếu đốn ngộ là chứng đắc , enlightenment, là thành tựu siddhi, thì phải xem xét vấn đề quả vị stage of attainment. Cái đích “Bồ tát” Bodhisattva trong Thiền tông cách xa với quả vị “A La Hán” Arahanta là bao nhiêu. “Kiến tánh thành Phật” là lúc sơ ngộ hay đại ngộ cũng thực sự còn là một vấn đề. Thiển nghĩ, “thấy tánh” là mới biết ngõ vào thôi, còn “nhập tánh” thì mới thành Phật tự như vậy Mật tông hay Thiền tông cũng không phải là lối tu tắt như nhiều người thường nghĩ! Mượn lời nói của Osho Một điều cần nhớ, rằng thiền là một chuyến đi dài, không có ngõ tắt. Ai nói rằng có lối đi tắt, tức người đó đã lừa dối bạn… Bởi vậy khi bắt đầu hành thiền, bạn đừng kì vọng gì quá mức. Nếu không kỳ vọng bạn sẽ không phải thất vọng. Thiền không phải là những mùa hoa sáu tháng một lần. Thiền là cây đại thụ phải cần thời gian để vươn rễ vào sâu lòng đất. Tôi cũng đồng ý với Osho như vậy. Thiền không có lối đi tắt. Tất cả đều phụ thuộc vào nghiệp, vào bộ gene của cơ thể, vào cấu trúc bẩm sinh của sinh lý thần kinh. Bạn nhập thiền dễ hơn người khác vì trước đó kiếp trước bạn đã từng thực tập nhiều rồi. Bạn thiền có được kết quả nhiều hay ít là vì bạn đã tiến hóa nhiều hay ít trên con đường tiến hóa của vũ trụ kể từ thủa ban lạiThiền gồm nhiều phương pháp và mang nhiều nội dung khác biệt. Nên hiểu Thiền như là phương tiện của nhiều tôn giáo, của nhiều pháp môn. Thiền có thể là “Thuật” bước vào Tâm. Thiền có thể là “Đạo” trong ý nghĩa tự thân của nó. Thiền có thể là cách tiếp cận với Chúa trời của một số các tôn giáo thần khải. Thiền có thể là cách điều khiển khí lực và năng lượng của Yoga trong mục đích chuyển hóa tâm linh. Thiền có thể là con đường truy tìm và thể nhập với Phật tánh trong đạo cùng, nếu bạn là một Phật tử, phải nhớ rằng con đường tu hành của Đức Phật chính là pháp thực hành thiền bhavana gồm Thiền định Samathabhavanavà Thiền quán Vipassanabahavana, dù rằng những phương pháp này ngày nay không còn được các “Đạo Phật phát triển” nhắc đến. Thiền của Đức Phật Gautama có phương pháp rõ ràng còn có thể tham cứu trong tam tạng kinh điển. Thiền của Đức Phật Gautama có những tiêu chuẩn cho các tầng thiền, các quả vị, các tầng bậc chứng đắc, nhờ vậy hành giả có thể biết mình đang đi trên đạo lộ nào đúng hay sai và đang đứng tại đâu mức độ nào. Nhờ sự minh bạch rõ ràng đó, những nổ lực của Phật tử sẽ không bị hoài Phạm Doãn luận bằng Facebook
Ngồi thiền tiếng anh là gì Mỗi một tôn giáo, giáo hội đều có những tên gọi và đặc điểm riêng của từng loại tôn giáo khác nhau. Các bạn đã từng tìm hiểu về những từ vựng liên quan đến tôn giáo Phật giáo trong Tiếng Anh chưa? Vậy thì bài học hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về một từ vựng cụ thể liên quan đến chủ đề tôn giáo trong Tiếng Anh, đó chính là “Thiền”. Vậy “Thiền” có nghĩa là gì trong Tiếng Anh? Nó được sử dụng như thế nào và có những cấu trúc ngữ pháp nào trong Tiếng Anh? StudyTiengAnh thấy nó là một loại từ khá phổ biến và hay đáng được tìm hiểu. Hãy cùng chúng mình đi tìm lời giải đáp trong bài viết dưới đây nhé. Chúc bạn học tốt nhé! Hình ảnh minh họa Thiền trong Tiếng Anh 1. Thiền Tiếng Anh là gì? Trong Tiếng Anh, Thiền có nghĩa là Meditation. Từ vựng Thiền trong Tiếng Anh có nghĩa là Meditation – được định nghĩa trong từ điển Cambridge là một phương pháp có nguồn gốc từ triết học Ấn Độ cổ đại, được xuất hiện trong Phật giáo, Kito Giáo,… Phương pháp Thiền được sử dụng như một hành động tôn giáo với mục đích hướng sự chú ý của con người vào một điều duy nhất giúp lấy lại sự bình tĩnh và làm thư giãn cơ thể. Nói cách khác, Thiền là phương pháp rèn luyện khả năng tập trung của con người, từ đó giúp con người trở nên bình tĩnh và lắng dịu để cảm nhận được sự bình an sâu thẳm. 2. Thông tin từ vựng – Từ vựng Thiền – Meditation – Cách phát âm + UK / + US / – Từ loại Danh từ – Nghĩa thông dụng + Nghĩa Tiếng Anh Meditation is the process of focusing your mind on one subject and being silent and peaceful for a length of time, either as part of a religious instruction or to improve your ability to deal with issues in everyday life. + Nghĩa Tiếng Việt Thiền là quá trình tập trung tâm trí của bạn vào một chủ đề, hãy im lặng và yên bình trong một thời gian dài, như một phần của hướng dẫn tôn giáo hoặc cải thiện khả năng của bạn để đối phó với các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Ví dụ Let us take a few moments to have quiet meditation. Chúng ta hãy dành một vài phút để thiền định một cách yên tĩnh. I left her deep in meditation. Tôi để cô ấy đắm chìm trong thiền định. The book is a philosophical meditation of the morality of art. Cuốn sách là một bài thiền triết học về đạo đức nghệ thuật. 3. Cách sử dụng từ vựng Thiền trong Tiếng Anh Theo nghĩa thông dụng, từ vựng Meditation hay Thiền trong Tiếng Anh được sử dụng như một danh từ, với mục đích diễn tả hành động tập trung tâm trí của bạn vào một chủ đề, hãy im lặng và yên bình trong một thời gian dài, như một phần của hướng dẫn tôn giáo hoặc cải thiện khả năng của bạn để đối phó với các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày. Hình ảnh minh họa Thiền trong Tiếng Anh Ví dụ Ammonius founded a school of philosophy in Alexandria after years of study and meditation. Ammonius thành lập một trường triết học ở Alexandria sau nhiều năm học tập và thiền định. Calm breathing and meditation or yoga might be beneficial. Bình tĩnh thở và thiền định hoặc yoga có thể có lợi. They worked meticulously duplicating books and were constantly immersed in religious study and devoted meditation. Họ đã làm việc tỉ mỉ để sao chép sách và liên tục đắm chìm trong nghiên cứu tôn giáo và thiền định một cách tận tụy. It emphasized individual experience and internal thought over external authority, as did Jewish law. Nó nhấn mạnh kinh nghiệm cá nhân và suy nghĩ nội bộ về thẩm quyền bên ngoài, cũng như luật Do Thái. 4. Ví dụ Anh-Việt liên quan đến từ vựng Thiền trong Tiếng Anh Many high-powered CEOs have started to practice yoga and meditation. Nhiều CEO có năng lực cao đã bắt đầu thực hành yoga và thiền định. It is critical that you practice meditation for at least a fortnight. Điều quan trọng là bạn phải thực hành thiền định trong ít nhất hai tuần. Antony had come to the conclusion that there had been rumors during his lonely meditation. Sự chuộc tội đã đi đến kết luận rằng đã có những tin đồn trong thời gian thiền cô đơn của ông. The latter has been found to increase after yoga and meditation and can help with anxiety and agitation. Loại thứ hai đã được tìm thấy tăng lên sau khi yoga và thiền định và có thể giúp đỡ với sự lo lắng và kích động. They utilized meditation and yoga to pass the time and relieve stress and worry. Họ sử dụng thiền định và yoga để vượt qua thời gian và giảm căng thẳng và lo lắng. It is discovered via meditation and introspection. Nó được phát hiện thông qua thiền định và nội tâm. Finding what works for you is a critical component of good meditation practice. Tìm kiếm những gì phù hợp với bạn là một thành phần quan trọng của việc thực hành thiền tốt. 5. Một số từ vựng liên quan đến từ vựng Thiền trong Tiếng Anh Hình ảnh minh họa Thiền trong Tiếng Anh Từ vựng Phát âm Nghĩa Wai /wai/ Khấn vái Kowtow /ˌkaʊˈtaʊ/ Lạy Pray /preɪ/ Cầu nguyện Incense sticks /ˈɪnsens stɪks/ Cây nhang Give offerings /ɡɪv ˈɑːfərɪŋz/ Dâng đồ cúng Charity /ˈtʃærəti/ Từ thiện Buddhist temple /ˈbʊdɪst ˈtempl/ Chùa Walk around collecting alms /wɔːk əˈraʊnd kəˈlektɪŋ ɑːmz/ Đi khất thực Bodhisattva /ˌboʊdɪˈsɑːtvə/ Bồ Tát Buddhism /ˈbʊdɪzəm/ Phật Giáo Emptiness /ˈemptinəs/ Tính không Vậy là chúng ta đã có cơ hội được tìm hiểu rõ hơn về nghĩa cách sử dụng cấu trúc từ Thiền trong Tiếng Anh. Hi vọng đã giúp bạn bổ sung thêm kiến thức về Tiếng Anh. Chúc các bạn học Tiếng Anh thật thành công.
thiền tiếng anh là gì